Phương Pháp Chọn Mẫu

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Chọn Mẫu xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 16/01/2021 trên website Planetefrancophonie.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Chọn Mẫu để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 8.415 lượt xem.

Có 13 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Chọn Mẫu】

【#1】Phương Pháp Chọn Mẫu Xác Suất (Ngẫu Nhiên)

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay còn gọi là chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu khi khả năng được chọn của tất cả các đơn vị vào tổng thể là như nhau. Phương pháp này là phương pháp khá tốt để người nghiên cứu có thể lựa chọn ra một mẫu có khả năng đại diện cho tổng thể nghiên cứu. Bên cạnh đó vì có khả năng tính được sai số do chọn mẫu do vậy ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung.

Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng được khi không xác định được danh sách của tổng thể chung; bên cạnh đó tốn kém nhiều thời gian, kinh phí điều tra và nguồn nhân lực

Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:

Đối với phương pháp này trước tiên người nghiên cứu cần lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó ví dụ như lập theo tên, c theo quy mô hoặc địa chỉ…, sau đó đánh STT vào trong danh sách; rồi dùng các phương pháp ngẫu nhiên như rút thăm, dùng bảng số ngẫu nhiên, dùng hàm random của máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Phương pháp này thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung nằm ở vị trí địa lý gần nhau, các đơn vị đồng đều nhau về đặc điểm. Phương pháp này thông thường được áp dụng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:

Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu. Ví dụ : Dựa vào danh sách bầu cử tại 1 thành phố, ta có danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm 240.000 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 2000 hộ. Vậy khoảng cách chọn là : k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu.

Chọn mẫu cả khối:

Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần nghiên cứu. Ví dụ : Tổng thể chung là sinh viên của một trường đại học. Khi đó ta sẽ lập danh sách các lớp chứ không lập danh sách sinh viên, sau đó chọn ra các lớp để điều tra.

Chọn mẫu phân tầng:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để chọn ra các đơn vị mẫu. Ví dụ :Muốn chọn ngẫu nhiên 50 hộ từ một thành phố có 10 khu phố, mỗi khu phố có 50 hộ. Cách tiến hành như sau : Trước tiên đánh số thứ tự các khu phố từ 1 đến 10, chọn ngẫu nhiên trong đó 5 khu phố. Đánh số thứ tự các hộ trong từng khu phố được chọn. Chọn ngẫu nhiên ra 10 hộ trong mỗi khu phố ta sẽ có đủ mẫu cần thiết.

Nếu có bất cứ thắc mắc gì, các bạn hãy liên hệ với chúng tôi qua:


【#2】Phương Pháp Chọn Mẫu (Sampling Method) Trong Kiểm Toán Là Gì?

Định nghĩa

Phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán tiếng Anh là Sampling Method.

Phương pháp chọn mẫu là các thủ tục, qui trình được tiến hành để chọn ra các phần tử từ tổng thể để áp dụng các phép thử cơ bản và tuân thủ để đánh giá.

Có hai phương pháp chọn mẫu chính là phương pháp chọn mẫu xác suất và phương pháp chọn mẫu phi xác suất.

Phương pháp chọn mẫu xác suất

Là phương pháp có hai đặc điểm sau:

– Các phần từ được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu.

– Sử dụng lí thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm việc định lượng rủi ro lấy mẫu.

Phương pháp này giúp cho mỗi phần tử của tổng thể có cơ hội ngang nhau để được lựa chọn vào mẫu, do đó có ưu điểm là đả, bảo tính khách quan. Tuy cách chọn này vẫn tồn tại rủi ro là mẫu được chọn không chứa đựng các đặc trưng chủ yếu của tổng thể nhưng mức rủi ro này được đo bằng các công thức thống kê.

Phương pháp chọn mẫu xác suất có thể sử dụng cho cả mẫu thống kê và mẫu phi thống kê. Tuy nhiên các kiểm toán viên ít khi sử dụng phương pháp này khi lấy mẫu phi thống kê. Còn khi lấy mẫu thống kê thì các kiểm toán viên bắt buộc phải dùng phương pháp này.

Trong chọn mẫu ngẫu nhiên, các kĩ thuật thường được sử dụng là bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống và chọn mẫu theo chương trình máy tính.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc cả hai đặc điểm sau:

– Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu.

– Sử dụng lí thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm việc định lượng rủi ro lấy mẫu.

Trong phương pháp này, các kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định và lựa chọn việc phần tử nào được đưa vào mẫu, dẫn đến các phần tử không có cơ hội ngang nhau về việc được lựa chọn vào mẫu.

Khác với phương pháp chọn mẫu xác suất, phương pháp này không được chấp nhận trong lấy mẫu thống kê mà chỉ có thể áp dụng trong lấy mẫu phi thống kê.

Lý do để kiểm toán viên lựa chọn phương pháp này là do dù việc chọn mẫu ngẫu nhiên sẽ không phát huy được ưu điểm nếu sai sót trọng yếu tập trung phân bổ theo những khối quần thể xác định hoặc nếu tổng thể có qui mô nhỏ. Nếu kiểm toán viên có phán đoán tốt và có nhiều kinh nghiệm làm quen với đối tượng kiểm toán thì phương pháp này sẽ mang lại kết quả tốt hơn so với phương pháp chọn mẫu xác suất.

Ba cách thông thường để chọn mẫu phi xác suất: chọn mẫu theo lô (khối), chọn bất kì (tình cờ), chọn mẫu xét đoán.

Hằng Hà


【#3】8.phuong Phap Chon Mau, Co Mau

, caothuthao1993 chez caothuthao1993

Published on

8.phuong phap chon mau, co mau

  1. 1. MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
  2. 2. 2 Mục tiêu học tập 1. Xác định được quần thể đích, quần thể nghiên cứu, đơn vị mẫu 2. Lựa chọn được phương pháp chọn mẫu thích hợp 3. Dự kiến được các loại sai số trong quá trình chọn mẫu và các biện pháp khắc phục. 4. Tính được cỡ mẫu cho một nghiên cứu
  3. 3. 3 Khái niệm Quần thể NC Mẫu Chọn ? ? Quần thể đích
  4. 4. 4 Đơn vị lấy mẫu, khung mẫu Đơn vị lấy mẫu: là đơn vị của quần thể được chọn vào mẫu Khung mẫu: Danh sách các đơn vị mẫu hoặc bản đồ phân bố mẫu. Đơn vị nghiên cứu: là một chủ thể mà sự quan sát hoặc đo lường sẽ được thực hiện trên chủ thể (người hoặc vật thí nghiệm)
  5. 5. 5 Nghiên cứu về sử dụng hố xí tại xã X 200 hộ Chủ hộ Đại diện hgđ PVDanh sách Các hộ gia đình trong xã Chọn Đơn vị lấy mẫu Khung mẫu Đơn vị NC
  6. 6. 6 Không đủ kinh phí Sai số trong điều tra toàn thể Mẫu đủ lớn sẽ ngoại suy ra toàn quần thể Lý do chọn mẫu
  7. 7. 7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
  8. 8. 8 Các phương pháp chọn mẫu  Chọn mẫu có xác suất Ngẫu nhiên đơn Ngẫu nhiên hệ thống Phân tầng Mẫu cụm Nhiều giai đoạn  Chọn mẫu không xác suất Thuận tiện Chỉ tiêu Mục đích
  9. 9. 9 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
  10. 10. 10 Là mẫu mà tất cả các thể trong quần thể có cùng cơ hội để chọn vào mẫu. Cách chọn: Lập danh sách toàn bộ những đơn vị mẫu trong quần thể Sử dụng phương pháp “bốc thăm” hoặc sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn đơn vị mẫu Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
  11. 11. 11 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Ưu điểm: Cách làm đơn giản, tính đại diện cao Có thể lòng vào các kỷ thuật chọn mẫu khác Hạn chế: Cần phải có khung mẫu Các cá thể được chọn vào mẫu có thể phân bố tản mạn.
  12. 12. 12 Chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống Sampling interval’s width is determined and inpiduals selected.
  13. 13. 13 Chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống Những cá thể được chọn theo một khoảng cách đều đặn Cách chọn Ghi một danh sách đơn vị mẫu Xác định khoảng cách mẫu k=N/n Chọn một số ngẫu nhiên (i) giữa 1 và k. Các cá thể có số thứ tự i + 1k, i + 2k, i + 3k… sẽ được chọn vào mẫu
  14. 14. 14 Chọn mẫu phân tầng
  15. 15. 15 Chọn mẫu phân tầng Là việc phân chia các cá thể của quần thể nghiên cứu thành các nhóm riêng lẽ Lý do phân tầng: Có sự khác biệt về đặc tính nghiên cứu của các cá thể ở các tầng Tầng có thể phân chia theo: Khu vực địa lý, giới, tuổi, nghề nghiệp… Ví dụ: Để khảo sát các yếu tố nguy cơ gây bệnh Đái tháo đường tại thành phố CT, nhà nghiên cứu có thể phân chia tầng theo thành thị và nông thôn
  16. 16. 16 Cách chọn mẫu tầng Thành phố CT Nông thôn Thành thị PhườngXã
  17. 17. 17 Cluster sample Chọn mẫu chùm (cụm)
  18. 18. 18 Chọn mẫu chùm (cụm) Do không có khung mẫu hoặc nghiên cứu trên địa bàn rộng Có được các nhóm của các đơn vị nghiên cứu có sẵn (các làng, các trường học) Việc chọn những nhóm các đơn vị nghiên cứu (các cụm) thay cho việc chọn cá nhân những đơn vị nghiên cứu.
  19. 19. 19 Chọn mẫu chùm (cụm) Các cụm thường là những đơn vị địa lý (xã, ấp/khu vực) hoặc những đơn vị tổ chức (các phòng khám, trường học…). Số lượng cụm, tuỳ vào số cụm. Nên chọn 30 Ví dụ: Chọn mẫu cụm trong xác định tỷ lệ bao phủ tiêm chủng trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh X
  20. 20. 20 Dân số chọn mẫu Mẫu cụm bậc 1 Mẫu cụm bậc 2 Chọn mẫu chùm (cụm)
  21. 21. 21 Chọn mẫu PPS – Xác suất tỷ lệ với kích cỡ của quần thể  Sử dụng khi nghiên cứu trên cộng đồng lớn, kích thước các cộng đồng không đều nhau  Các bước thực hiện 1. Liệt kê các cụm và dân số 2. Xếp các cụm theo một trình tự và cộng dồn 3. Chọn khoảng cách mẫu k = Dscd/số cụm 4. Chọn ngẫu nhiên con số i nào đó, chọn cụm đầu tiên có dân số cộng dồn lớn hơn hoặc bằng i 5. Các cụm kế tiếp tính bằng cách lấy i + k
  22. 22. 22 Ví dụ Một nghiên cứu về tình trạng sâu răng của học sinh tiểu học tại quận Ninh kiều TPCT. Cỡ mẫu: 300 học sinh Số lượng trường tiểu học là 10 Số lượng trường tiểu học cần chọn là 4 Các bước chọn theo PPS?
  23. 23. 23 Tên trường và số lượng học sinh Tên Trường Số lượng 1 400 2 700 3 800 4 1200 5 1800 6 300 7 800 8 900 9 1100 10 1000 Tổng 9000
  24. 24. 24 Cộng dồn Tên Trường Số lượng Cộng dồn 1 400 400 2 700 1100 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  25. 25. 25 Tính khoảng cách k Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách k 1 400 400 2250 2 700 1100 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  26. 26. 26 Chọn số ngẫu nhiên i <= k Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  27. 27. 27 Chọn các cụm còn lại Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 2929 5 1800 4900 6 300 5200 5179 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 10 1000 9000 Tổng 9000
  28. 28. 28 Tính tổng học sinh của các trường được chọn Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm Mẫu 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 2929 5 1800 4900 6 300 5200 5179 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 10 1000 9000 Tổng 9000 3300 0
  29. 29. 29 Tính cỡ mẫu cho các trường ni= (n x Ni)/N Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm Mẫu 1 400 400 2250 2 700 1100 679 64 3 800 1900 4 1200 3100 2929 109 5 1800 4900 6 300 5200 5179 27 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 100 10 1000 9000 Tổng 9000 3300 300
  30. 30. 30 Chọn mẫu nhiều giai đoạn Trong những quần thể rất lớn và rải khắp mẫu có thể được tiến hành theo hai hoặc nhiều giai đoạn Thường là những nghiên cứu dựa trên cộng đồng, trong đó người được phỏng vấn thuộc những làng khác nhau, và những làng này đã được chọn từ những khu vực khác nhau
  31. 31. 31 Ví dụ Ví dụ: ĐBSCL có 13 tỉnh, mỗi tỉnh có nhiều huyện, mỗi huyện có nhiều xã… Giai đọan 1: Chọn ngẫu nhiên 3 tỉnh; Giai đọan 2: Chọn ngẫu nhiên 2 huyện từ các tỉnh đã được chọn ở giai đoạn 1 Giai đọan 3: Chọn ngẫu nhiên 2 xã từ các huyện đã được chọn ở giai đoạn 2,… Giai đoạn 4: Chọn ngẫu nhiên 2 ấp từ xã Giai đoạn 5: Chọn ngẫu nhiên 30 cá thể từ mỗi ấp
  32. 32. 32 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu thuận tiện Đạt được trên cơ sở các cá thể có sẵn khi thu thập số liệu. Ví dụ: Tất cả các bệnh nhân đến khám tại phòng khám hằng ngày. Đây là cách chọn mẫu hay gặp trong nghiên cứu lâm sàng.
  33. 33. 33 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu chỉ tiêu Là phương pháp đảm bảo rằng một số nhất định các đơn vị mẫu từ các loại khác nhau của quần thể nghiên cứu với các tính đặc trưng sẽ có mặt trong mẫu.
  34. 34. 34 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu mục đích Nhà nghiên cứu đã xác định trước các nhóm quan trọng để tiến hành thu thập số liệu. Các nhóm khác nhau sẽ có tỷ lệ mẫu khác nhau. Đây là cách hay dùng trong các điều tra thăm dò, phỏng vấn sâu.
  35. 35. 35 Các sai số thường gặp trong chọn mẫu  Sự không đáp ứng  Nghiên cứu với người tình nguyện  Sai số do mùa  Sai số do đường xá
  36. 36. 36 Sự không đáp ứng  Là hiện tượng các cá thể từ chối tham gia nghiên cứu.  Thường hay gặp trong thử nghiệm lâm sàng  Cách khắc phục: Chuẩn hoá phương pháp thu thập số liệu Giải thích các đối tượng trước khi thu thập số liệu Nếu vằng mặt thì người điều tra phải quay lại gặp cho bằng được. Nếu đối tượng không muốn hợp tác thì phải xem xét lại đối tượng này để tìm ra các đặc điểm khác với những đối tượng tham gia. Có thể chọn thêm đối tượng vào mẫu để thay thế những người không tham gia.
  37. 38. 38 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu Loại thiết kế nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu Độ lớn của tham số được nghiên cứu Mức độ sai lệch tham số mẫu và tham số quần thể Khả năng thực thi
  38. 39. 39 Cỡ mẫu cho việc ước tính tỷ lệ trong quần thể 2 2 2/1 )1( d pp Zn −× = −α Cỡ mẫu Tỷ lệ ước đoán Khoảng sai lệch Mức ý nghĩa thống kê Hệ số tin cậy 0,1 0,05 0,05 0,01
  39. 40. 40 Giá trị Z Giá trị Z thu được từ bằng cách tra bảng Z Với α = 0,1 ; Z = 1,645 Với α = 0,05; Z = 1,96 Với α = 0,01; Z= 2,58
  40. 41. 41 Ví dụ Trưởng phòng y tế huyện muốn xác định tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi trong huyện hiện tại là bao nhiêu. Giả sử rằng bạn sử dụng kỷ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên, hãy tính cỡ mẫu cần thiết cho cuộc điều tra này. Biết rằng tỷ lệ SDD chung của quốc gia là 30%, độ tin cậy là 95%, khoảng sai lệch 5%.
  41. 42. 42 Cách tính cỡ mẫu nghiên cứu đối với ước tính một tỷ lệ trong QT 2 2 2/1 )1( d pp Zn −× = −α Cỡ mẫu Tỷ lệ ước đoán Khoảng sai lệch Mức ý nghĩa thống kê Hệ số tin cậy 0,050,05 1,96 0,3 323
  42. 43. VD: Muốn ước lượng tỷ lệ hộ gia đình có người mắc bệnh A, dựa vào tài liệu của một số nghiên cứu trước chúng ta biết tỷ lệ này là 35%. Nếu chúng ta sử dụng độ chính xác là 99% , sai số tuyệt đối là 5% thì cỡ mẫu cần thiết là bao nhiêu?
  43. 44. 44 Quần thể hữu hạn P là kích thước của dân số đích và Nhc là cỡ mẫu sau khi đã hiệu chỉnh Với ví dụ trên, dân số trẻ dưới 5 tuổi trong huyện là 1000 thì số trẻ cần cho nghiên cứu? PN PN Nhc + × =
  44. 45. 45 Cỡ mẫu trong nghiên cứu đối với giá trị trung bình 2 2 2 2/1 d Zn σ α−= n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có σ: Độ lệch chuẩn quần thể
  45. 46. VD: Nhà nghiên cứu muốn ước lượng cân nặng trung bình của trẻ em mới sinh ra trong cộng đồng. Có một báo cáo từ một nghiên cứu khác ở địa bàn tương tự cộng đồng này đã cho biết độ lệch chuẩn là 600gr. Người nghiên cứu cần có một mẫu trong đó độ rộng khoảng tin cậy dao động không quá 60gr với độ tin cậy là 99%. Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là bao nhiêu?
  46. 47. 47 Hiệu lực thiết kế (Design Effect): D  Sử dụng trong nhiều trường hợp chọn mẫu: mẫu cụm, chọn mẫu nhiều giai đoạn.  Đễ đảm bảo tính chính xác của mẫu, nhà nghiên cứu thường nhân cỡ mẫu với một hệ số gọi là hiệu lực thiết kế (ký hiệu D).  Giá trị của D: 1,5 – 2…Thông thường chọn D = 2.
  47. 48. Một nghiên cứu nhằm khảo sát tỷ lệ hút thuốc lá của sinh viên nam tại trường Đại học Tây Đô. Theo một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ Hút thuốc lá trong Nam sinh viên của các trường Đại học là 30%. a) Tính cỡ mẫu cho nghiên cứu b) Giả sử số liệu các lớp sinh viên trong trường theo bảng, hãy sử dụng phương pháp chọn mẫu thích hợp chọn ra học sinh (Phương pháp chọn, cách chọn, lớp được chọn, học sinh trong lớp được chọn….)
  48. 49. Lớ p D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 Số sv 270 232 278 300 250 130 120 Lớ p D8 ĐD 1 ĐD 2 ĐD 3 ĐD 4 CT D 2 CT D 3 Số sv 67 150 105 76 54 86 67


【#4】Mẫu Phi Ngẫu Nhiên Là Gì? Phương Pháp Chọn Mẫu Phi Ngẫu Nhiên

Mẫu phi ngẫu nhiên là gì?

Mẫu phi ngẫu nhiên (Nonprobability sampling) là một mẫu không phải là ngẫu nhiên được gọi là chọn mẫu phi ngẫu nhiên hay chọn mẫu không có xác suất. Một ví dụ về các mẫu không ngẫu nhiên là mẫu thuận lợi, mẫu phán đoán, mẫu có chủ đích, mẫu quota, mẫu dây chuyền, giao điểm vuông góc trong phương pháp giống như Monte Carlo.

Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên

Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn. ta tiến hành phỏng vấn các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được chọn

Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung

Các phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu thuận tiện:

Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.

Chọn mẫu phán đoán:

Là phương pháp mà phỏng vấn viên là người tự đưa ra phán đoán về đối tượng cần chọn vào mẫu. Như vậy tính đại diện của mẫu phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của người tổ chức việc điều tra và cả người đi thu thập dữ liệu. Chẳng hạn, nhân viên phỏng vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn. Như vậy không có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn.

Chọn mẫu định ngạch:

Đối với phương pháp chọn mẫu này, trước tiên ta tiến hành phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó mà ta đang quan tâm, cũng giống như chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên sau đó ta lại dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện hay chọn mẫu phán đoán để chọn các đơn vị trong từng tổ để tiến hành điều tra. Sự phân bổ số đơn vị cần điều tra cho từng tổ được chia hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan của người nghiên cứu. Chẳng hạn nhà nghiên cứu yêu cầu các vấn viên đi phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố. Nếu áp dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch, ta có thể phân tổ theo giới tính và tuổi như sau:chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 40 trở lên. Sau đó nhân viên điều tra có thể chọn những người gần nhà hay thuận lợi cho việc điều tra của họ để dễ nhanh chóng hoàn thành công việc.


【#5】Một Số Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Khoa Học

Qua trình điều tra chọn mẫu có nghĩa là người nghiên cứu không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của một tổng thể mà chỉ tiến hành điều tra trên 1 số đơn vị nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí của quá trình nghiên cứu và công sức của nhà nghiên cứu trong quá trình điều tra. Các nhà nghiên cứu thường dựa trên các đặc điểm và tính chất của mẫu khảo sát để thể suy ra được các đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó. Vấn đề quan trọng nhất là nhà nghiên cứu phải đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung.

Quá trình tổ chức điều tra của một nghiên cứu khoa học thông thường được bao gồm 6 bước như sau:

Một là, xác định tổng thể chung (người nghiên cứu cần phải xác định rõ tổng thể chung vì nghiên cứu sẽ tiến hành chọn mẫu từ đó)

Hai là, xác định khung chọn mẫu (danh sách mẫu): Thông thường các khung chọn mẫu có sẵn và thường được sử dụng là: danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên cá nhân, doanh nghiệp hoặc cơ quan; danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên đường, quận huyện, thành phố; các danh sách liên lạc thư tín : bao gồm hội viên của câu lạc bộ, hiệp hội, độc giả mua báo của các toà soạn báo…; các khách mời đến dự các cuộc hội thảo hay giới thiệu sản phẩm mới.

Ba là, xác định phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu dựa vào mục đích hay tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, thời gian tiến hành, kinh phí, kỹ năng của người nghiên cứu,… nhằm quyết định lựa chọn phương pháp chọn mẫu xác suất hay phi xác suất; sau đó tiếp tục chọn ra hình thức cụ thể của phương pháp này.

Bốn là, xác định quy mô mẫu: quá trình này thường dựa vào yêu cầu về độ chính xác, khung chọn mẫu đã có sẵn hay chưa, phương pháp thu thập dữ liệu, kinh phí cho phép của cuộc điều tra. Với mẫu xác suất thì sẽ có công thức riêng để tính cỡ mẫu cho phù hợp; đối với mẫu phi xác suất thì thường dựa vào kinh nghiệm và sự am hiểu về vấn đề nghiên cứu của người nghiên cứu để chọn cỡ mẫu cho phù hợp.

Năm là, xác định các chỉ thị để nhận diện được đơn vị mẫu trong thực tế: Đối với mẫu xác suất người viết phải xác định rõ cách thức chọn từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu nhằm đảm bảo mọi đơn vị đều có khả năng được chọn như nhau.

Sáu là, kiểm tra và đánh giá quá trình chọn mẫu: đây là khâu cuối cùng của quá trình điều tra, trong khâu này người viết thường kiểm tra dựa trên các mặt sau: Kiểm tra và đánh giá các đơn vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu đã đề ra từ đầu hay là không? (vì thường các nghiên cứu hay mắc sai lầm ở khâu chọn đối tượng do thu thập thông tin ở nơi không thích hợp, ở những đối tượng không thích hợp, hay bỏ qua những thông tin của những người lẽ ra phải được phỏng vấn). Kiểm tra và đánh giá sự thành thật của người được phỏng vấn (quá trình hỏi càng lâu thì sự từ chối trả lời càng lớn). Kiểm tra và đánh giá tỷ lệ hoàn tất của đối tượng phỏng vấn (xem đã thu thập đủ số đơn vị cần thiết trên mẫu chưa) : khi phỏng vấn bằng thư đôi lúc thư bị trả lại do không có người nhận, khi phỏng vấn bằng điện thoại đôi khi không thể tiếp xúc được với đối tượng khảo sát vì không có mặt hay không có điện thoại.

Đi sâu vào phương pháp chọn mẫu ta có 2 phương pháp chọn mẫu cơ bản là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

1. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay còn gọi là chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu khi khả năng được chọn của tất cả các đơn vị vào tổng thể là như nhau. Phương pháp này là phương pháp khá tốt để người nghiên cứu có thể lựa chọn ra một mẫu có khả năng đại diện cho tổng thể nghiên cứu. Bên cạnh đó vì có khả năng tính được sai số do chọn mẫu do vậy ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung.

Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng được khi không xác định được danh sách của tổng thể chung; bên cạnh đó tốn kém nhiều thời gian, kinh phí điều tra và nguồn nhân lực

Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:

Đối với phương pháp này trước tiên người nghiên cứu cần lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó ví dụ như lập theo tên, c theo quy mô hoặc địa chỉ…, sau đó đánh STT vào trong danh sách; rồi dùng các phương pháp ngẫu nhiên như rút thăm, dùng bảng số ngẫu nhiên, dùng hàm random của máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Phương pháp này thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung nằm ở vị trí địa lý gần nhau, các đơn vị đồng đều nhau về đặc điểm. Phương pháp này thông thường được áp dụng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:

Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu. Ví dụ : Dựa vào danh sách bầu cử tại 1 thành phố, ta có danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm 240.000 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 2000 hộ. Vậy khoảng cách chọn là : k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu.

Chọn mẫu cả khối:

Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần nghiên cứu. Ví dụ : Tổng thể chung là sinh viên của một trường đại học. Khi đó ta sẽ lập danh sách các lớp chứ không lập danh sách sinh viên, sau đó chọn ra các lớp để điều tra.

Chọn mẫu phân tầng:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để chọn ra các đơn vị mẫu. Ví dụ :Muốn chọn ngẫu nhiên 50 hộ từ một thành phố có 10 khu phố, mỗi khu phố có 50 hộ. Cách tiến hành như sau : Trước tiên đánh số thứ tự các khu phố từ 1 đến 10, chọn ngẫu nhiên trong đó 5 khu phố. Đánh số thứ tự các hộ trong từng khu phố được chọn. Chọn ngẫu nhiên ra 10 hộ trong mỗi khu phố ta sẽ có đủ mẫu cần thiết.

2. Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn : Ta tiến hành phỏng vấn các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được chọn

Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung

Các phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu thuận tiện:

Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.

Chọn mẫu phán đoán:

Là phương pháp mà phỏng vấn viên là người tự đưa ra phán đoán về đối tượng cần chọn vào mẫu. Như vậy tính đại diện của mẫu phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của người tổ chức việc điều tra và cả người đi thu thập dữ liệu. Chẳng hạn, nhân viên phỏng vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn. Như vậy không có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn.

Chọn mẫu định ngạch :

Đối với phương pháp chọn mẫu này, trước tiên ta tiến hành phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó mà ta đang quan tâm, cũng giống như chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên sau đó ta lại dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện hay chọn mẫu phán đoán để chọn các đơn vị trong từng tổ để tiến hành điều tra. Sự phân bổ số đơn vị cần điều tra cho từng tổ được chia hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan của người nghiên cứu. Chẳng hạn nhà nghiên cứu yêu cầu các vấn viên đi phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố. Nếu áp dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch, ta có thể phân tổ theo giới tính và tuổi như sau:chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 40 trở lên. Sau đó nhân viên điều tra có thể chọn những người gần nhà hay thuận lợi cho việc điều tra của họ để dễ nhanh chóng hoàn thành công việc.

Một số phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍


【#6】Phương Pháp Kiểm Toán Chọn Mẫu

Khái niệm: Chọn mẫu kiểm toán là chọn một số phần tử gọi là mẫu trong một hệ thống các phần tử gọi là tổng thể để từ các đặc trưng của mẫu được chọn sẽ suy đoán và rút ra kết luận về các phần tử đặc trưng của tổng thể mẫu.

Sự cần thiết và ý nghĩa của phương pháp chọn mẫu.

Trong khi đó, chuẩn mực thận trọng thích đáng lại không cho phép công tác kiểm toán bỏ qua những sai phạm trọng yếu để loại trừ những rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, giảm tối đa rủi ro phát hiện. Trên giác độ khác nhau, niềm tin của những người quan tâm đến tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán cũng đòi hỏi kiểm toán viên phải đưa ra được những đánh giá chính xác nhất trong những điều kiện cho phép về chất lượng của bảng công bố tài chính.

Như vậy, giữa yêu cầu về chất lượng kiểm toán và khả năng xác minh toàn diện các đối tượng kiểm toán đã phát sinh mâu thuẫn. Chìa khoá để mở ra bí quyết mâu thuẫn trên chính là phương pháp kiểm toán chọn mẫu theo tinh thần: với số lượng xác định, với tính đại diện cao của mẫu chọn sẽ giúp cho kiểm toán viên vẫn đảm bảo chất lượng kiểm toán với thời lượng có hạn và chi phí kiểm toán thấp. Tính đại diện của mẫu càng cao thì số lượng mẫu kiểm toán sẽ càng ít, chi phí kiểm toán càng giảm trong khi vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng kiểm tóan.

Rủi ro trong chọn mẫu và loại hình chọn mẫu trong kiểm toán.

Trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm tổng thể và mẫu đại diện:

    Tổng thể là toàn bộ số liệu mà kiểm toán viên phải chọn mẫu đại diện để kiểm toán và từ đó đánh giá kiểm tra mẫu đại diện đó.

Mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm của mẫu cũng giống như những đặc điểm tổng thể.

  • Vấn đề đặt ra là chọn mẫu bằng cách nào và chọn mẫu với đặc điểm và số lượng ra sao để đảm bảo chất lượng mẫu cao nhất, nghĩa là chọn được mẫu tiêu chuẩn với những đặc điểm tổng thể có mẫu được chọn ra. Chẳng hạn qua kiểm soát nội bộ xác định có 3% phiếu chi không có chứng từ gốc kèm theo. Nừu trong một tập phiếu chi chỉ chọn ra 100 phiếu thấy có đúng 3 lần thiếu chứng từ gốc thì mẫu được chọn là tiêu biểu. Có hai khả năng dẫn đến phiếu được chọn là không tiêu biểu là: Rủi ro do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu. Tuy vậy, cả hai đều có thể kiểm soát khi kiểm toán viên thận trọng trong việc chọn mẫu.
  • Rủi ro chọn mẫu: là sai lầm vốn có trong chọn mẫu do không khảo sát (trặc nghiệm) toàn bộ chứng từ nghiệp vụ. Khả năng này luôn tồn tại do hạn chế vốn có của chọn mẫu. Dù sai lầm không do chọn mẫu là không có thì vẫn có khả năng có mẫu chọn không tiêu biểu.

Ví dụ như: Quần thể chứng từ có tỷ lệ khác biệt là 3% thì kiểm toán viên vẫn có thể chọn một mẫu có chứa ít hơn hoặc nhiều hơn 3%.

Kiểm toán viên có thể sử dụng một trong hai cách hoặc cả hai cách sau để giảm bớt rủi ro do chọn mẫu:

Một là: Tăng quy mô mâu.

Hai là: Lựa chọn phương pháp thích hợp cho quá trình lựa chọn các khoản mục mẫu từ tổng thể, Kiểm toán viên có thể lựa chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hay chọn mẫu hệ thống.

Rủi ro không do chọn mẫu xảy ra khi các trắc nghiệm không thấy khác biệt trong mẫu chọn. Như trong ví dụ nêu trên, có 3 phiếu chi không gắn chứng từ gốc, nên kiểm toán viên không thấy có những biểu hiện khác biệt thì rủi ro không phải do mẫu chọn ra. Có hai nguyên nhân dẫn tới sai sót không do mẫu chọn là:

  • Kiểm toán viên không thấy có sự khác biệt trong mẫu chọn do không nhận biết rõ về nội dung, phạm vi cụ thể của kiểm toán.
  • Trình tự kiểm tra không thích hợp, đó là mục tiêu và bước đi không rõ ràng. Như ví dụ nêu trên, mục tiêu chọn mẫu là xem xét các thủ tục chứng từ trong đó buộc phiếu chi phải kèm theo chứng từ gốc.

Do đó, thiết kế thận trọng các thủ tục kiểm toán, giám sát đúng đắn và có hướng dẫn là cách hạn chế rủi ro trong chọn mẫu. Trong chọn mẫu kiểm toán cần đặc biệt chú trọng đặc điểm hình thức biểu hiện phổ biến của đối tượng kiểm toán là thước đo tiền tệ, nghĩa là: Mỗi loại nghiệp vụ hay tài sản được phản ánh vào chứng từ, tài khoản và hình thành các khoản mục của các bảng cân đối tài chính đều bằng tiền tệ. Cho nên có thể có hai căn cứ để chọn mẫu: Đơn vị hiện vật về số lượng các khoản mục, các chứng từ trong một đám đông hay gía trị của đám đông đó. Với mỗi một căn cứ cụ thể mức đại diện của mẫu chọn lại khác nhau. Muốn nâng cao chất lượng của mẫu chọn, phải tuỳ trường hợp cụ thể để xác định căn cứ và cách thức tiến hành chọn mẫu.

Như vậy, trong tất cả các vấn đề nêu trên, loại hình và phương pháp chọn mẫu cùng quy mô tương ứng của mẫu chọn là vấn đề trung tâm trong chọn mẫu kiểm toán.

Nói chung có nhiều phương pháp chọn mẫu đại diện và mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm nhất định. Các phương pháp thường áp dụng là:

  • Nếu phân theo hình thức biểu hiện của kiểm toán (đặc tính của đám đông) thì có thể chọn mẫu theo đơn vị hiện vật hoặc theo giá trị tiền tệ.
  • Nếu phân chia theo cách thức cụ thể để chọn mẫu có thể chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu hệ thống (còn gọi là chọn mẫu phi xác xuất).

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.

Khái niệm: Chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp chọn khách quan máy móc theo một phương pháp đã xác định và các phần tử trong tổng thể có cơ hội như nhau để trở thành mẫu chọn.

Đặc trưng:

  • áp dụng phương pháp máy móc và tiến hành đánh giá một cách khách quan về kết quả nhận được.
  • Các phần tử có cơ hội như nhau.

Do đó, để đảm bảo là mẫu chọn ngẫu nhiên mang tính đại diện cao đòi hỏi kiểm toán viên phải sử dụng một phương pháp có tính hệ thống hoá cao. Trong kiểm toán, chọn mẫu ngẫu nhiên được thể hiện theo ba cách sau:

  • Thông qua bảng số ngẫu nhiên.
  • Chọn qua máy tính.
  • Chọn thống kê.

Chọn mẫu thông qua bảng số ngẫu nhiên.

  • Bảng số ngẫu nhiên là tập hợp các con số ngẫu nhiên dược sắp xếp hoàn toàn ngẫu nhiên sử dụng trong quá trình chọn mẫu.
  • Các con số ngẫu nhiên là số có 5 chữ số được xếp theo hàng và theo cột do hiệp hội thương mại liên quốc gia tiến hành.
  • Các bước tiến hành.
    • Bước1. Định lượng các đối tượng kiểm toán và định dạng các phần tử bằng một hệ thống các con số duy nhất.
    • Bước2. Xác định mối liên hệ giữa các số chữ số chữ số của phần tử đã được định dạng với số chữ số của số ngẫu nhiên trên bảng số ngẫu nhiên.

Trường hợp 1: Số chữ số của phần tử đã được định dạng bằng chữ số của số ngẫu nhiên trên bảng số trong trường hợp này kiểm toán viên lấy toàn bộ 5 chữ số của số ngẫu nhiên để tiến hành chọn mẫu.

Trường hợp 2: Số chữ số của phần tử đã được định dạng nhỏ hơn 5 chữ số.

Trường hợp 2 (1). Trường hợp số chữ số = 2 trong trường hợp này kiểm toán viên có 4 cách lựa chọn số ngẫu nhiên lấy 2 chữ số đầu hoặc 2 chữ số gần đầu hoặc 2 chữ số gần cuối của số ngẫu nhiên trên bảng số.

Trường hợp 2 (2). Trường hợp số chữ số = 3 trong trường hợp này kiểm toán viên có 3 cách lựa chọn, 3 chữ số đầu, 3 chữ số giữa, hoặc 3 chữ số cuối.

Trường hợp 2 (3). Trường hợp số chữ số = 4 trong trường hợp này kiểm toán viên có 2 cách lựa chọn: 4 chữ số đầu hoặc 4 chữ số cuối.

Trường hợp 3: Số chữ số của phần tử đã định dạng lớn hơn 5, trong trường hợp này kiểm toán viên sẽ quy định đâu là cột chủ đâu là cột phụ và khi tiến hành chọn mẫu sẽ lấy toàn bộ 5 chữ số của số ngẫu nhiên trên cột chủ, và lấy thêm số chữ số tương ứng trên cột phụ để có được số ngẫu nhiên có chữ só phù hợp.

    Bước3. Xác định lộ trình sử dụng bảng số ngẫu nhiên.

Lộ trình từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.

Chọn từ trái qua phải và từ phải qua trái

    Bước4. Chọn điểm xuất phát lựa chọn phải hoàn toàn ngẫu nhiên.

Chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy tính.

Ngày nay phần lớn các hãng, công ty kiểm toán đã thuê hoặc xây dựng các chương trình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy tính nhằm tiết kiệm thời gian, giảm sai sót trong chọn mẫu. Nói chung các chương trình chuyên dùng này rất đa dạng song vẫn tôn trọng 2 bước đầu tiên của chọn mẫu theo “Bảng số ngẫu nhiên” là lượng hoá mỗi khoản mục, chứng từ, tài sản… bằng con số riêng theo thứ tự nhất định và xác lập mối quan hệ giữa số thứ tự và số ngẫu nhiên. Tuy vậy, điểm khác là ở chỗ các con số ngẫu nhiên không phải lấy từ bảng số ngẫu nhiên mà do máy tính tạo ra.

Như vậy, ở đầu vào chương trình cần có: Số nhỏ nhất và số lớn nhất trong số dãy số thứ tự của đối tượng kiểm toán, số lượng các con số ngẫu nhiên cần có và có thể có một số ngẫu nhiên là điểm suất phát. Còn đầu ra thường là một bảng kê số ngẫu nhiên theo trật tự lựa chọn hoặc theo dãy số tăng dần hoặc cả hai. Máy tính có thể nhanh chóng thoả mãn các yêu cầu đặt ra là kể cả ở đầu ra cũng như trong quá trình lựa chọn ( như các số cần loại trừ).

Chọn mẫu theo hệ thống.

Đây là phương pháp chọn máy móc theo khoảng cách xác định trên cơ sở kích cỡ của quần thể và số lượng mẫu chọn. Nếu như lấy khoảng cách hàng là đều nhau ta có:

Trong đó các chỉ tiêu trên có ý nghĩa như sau:

Kích cỡ quần thể là tổng số các phần tử cấu thành quẩn thể.

Số lượng mẫu chọn là số lượng mẫu cần có để đảm bảo tính tiêu biểu của mẫu. Mẫu chọn đầu sẽ nằm trong khoảng cách phần tử bé nhất đến phần tử đó cộng với số gia là khoảng cách mẫu, nghĩa là:

Mẫu chọn thứ 2 sẽ là tổng của mẫu chọn thứ nhất với khoảng cách mẫu:

Khái quát hơn ta có công thức xác định mẫu trạng thái:

Khi chọn mẫu hệ thống, điều quan trọng là phải xác định được các mẫu đại diện thoả mãn yêu cầu:

  • Các phần tử của mẫu đại diện trong tổng thể phải có những đặc điểm giống nhau.
  • Các phần tử của mẫu được chọn phải được sắp xếp có hệ thống tuần tự.
  • Không để một phần tử nào trong tổng thể bị bỏ sót.

Như vậy có thể thấy:

Ưu điểm cơ bản của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm và bảo đảm phân bố đều đặn các mẫu chọn vào các đối tượng cụ thể (các loại khoản mục, loại tài sản hoặc loại chứng từ theo thời gian thành lập…).

Nhược điểm cơ bản của chọn mẫu hệ thống là tính tiêu biểu của mẫu chọn phụ thuộc hoàn toàn vào việc ấn định chọn đẩu tiên. Một khi mẫu đầu tiên đã được chọn thì tự nhiên sẽ không có vấn để gì phát sinh nếu sai sót trọng yếu cũng phân bổ như vậy. Song thực tế, rất ít có sự trùng hợp này. Do đó để ứng dụng phương pháp này phải nghiên cứu kỹ quần thể được kê ra để đánh giá khả năng có sai sót hệ thống. Trong thực tế phương pháp này không được đánh giá cao lắm.

Phương pháp chọn mẫu phi xác xuất.

  • Khái niệm: Chọn mẫu phi xác xuất là phương pháp chọn mẫu theo phán đoán chủ quan không theo một phương pháp cố định.
  • Các phương pháp chọn mẫu phi xác xuất thường được sử dụng là chọn mẫu theo khối và chọn mẫu theo nhận định, ngoài ra còn một phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu tình cờ nhưng phương pháp này ít được sử dụng.

Chọn mẫu theo khối:

  • Khái niệm: là việc chọn một tập hợp các mẫu liên tục trong một dãy nhất định.
  • Phần tử đầu tiên trong khối đã được chọn thì phần còn lại cũng được chọn tất yếu. Mẫu chọn có thể là một khối hoặc nhiều khối. Chẳng hạn có thể chọn một dãy liên tục tới 100 nghiệp vụ chỉ tiêu trong một tuần cuối tháng 10. Mẫu 100 nghiệp vụ này cũng có thể lấy 5 khối với 20 khoản mục với mỗi khối hoặc 50 khối với 2 khoản mục mỗi khối…

Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, khoản mục chỉ áp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị kiểm toán và khi có số lượng các khối vừa đủ. Do đó trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: Thay đổi nhân viên, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của nghành kinh doanh… Tuy nhiên theo các chuyên gia kiểm toán thì con số hợp lý số lượng ít nhất là 9 khối từ 9 tháng khác nhau trong năm.

Chọn mẫu theo xét đoán:

Việc chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuất hiện của những mẫu đại diện, trong những trường hợp khi có kích cỡ mẫu nhỏ hoặc có tình huống không bình thường… Để tăng hiệu quả của các phương pháp nhận định, kiểm toán viên phải tập trung chú ý vào phân bổ mẫu chọn theo các hướng khác nhau như sau:

  • Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách. Cần căn cứ vào số lượng nghiệp vụ do mỗi người thực hiện, chúng phải được kiểm toán. Nếu nhận thấy có thay đổi nhân viên hoặc nếu các nghiệp vụ ở các địa điểm khác nhau sẽ dễ có mẫu chọn không đại diện khi giới hạn phạm vi chọn mẫu.
  • Theo quy mô: Khi chọn các mẫu có quy mô tiền tệ khác nhau thì các khoản mục, nghiệp vụ, tài khoản… có số dư lớn sẽ chọn để kiểm toán.

Chọn mẫu tình cờ:

Các phương pháp chọn mẫu phi xác xuất có nhiều ưu việt trong nhiều tình huống, nhất là khi phí cho những phương pháp chọn mẫu phức tạp vượt quá lợi ích mang lại và khi mục tiêu kiểm toán đã gắn chặt với phạm vi xác định của đối tượng kiểm toán…

Trong trường hợp này, các phương pháp chọn mẫu xác xuất không chỉ tốn nhiều chi phí, mà còn ảnh hưởng xấu tới kết luận kiểm toán do không chọn được những mẫu điển hình.

Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ.

Đặc điểm: Có thể nói chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là sáng tạo mới và là đặc trưng có trong khoa học kiểm toán.

Có 5 đặc điểm:

  • Điểm nổi bật nhất của chọn mẫu tiền tệ là đơn vị mẫu được chuyển hoá từ đơn vị hiện vật (các hoá đơn, chứng từ, các nghiệp vụ…) kể cả đơn vị tự nhiên, song đơn vị đo lường là đơn vị tiền tệ.
  • Mỗi đơn vị tiền tệ trở thành một phần tử của tập hợp.
  • Kích cỡ của mẫu chọn theo đơn vị tiền tệ thường lớn hơn rất nhiều so với đơn vị hiện vật.
  • Trọng tâm kiểm toán thường rơi vào các khoản mục có giá trị lớn.
  • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng áp dụng các phương pháp chọn mẫu theo các đơn vị hiện vật.

Chọn mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị tiền tệ theo bảng số ngẫu nhiên.

Các bước tiến hành:

  • Bước1: Xác định số luỹ kế hay còn gọi là số cộng dồn.
  • Bước2: Định dạng các phần tử.
  • Bước3: Xác định mối liên hệ giữa luỹ kế với số ngẫu nhiên trên bảng số.
  • Bước4: Xác định lộ trình sử dụng bảng số (Xác định theo 2 hướng).
  • Bước5: Chọ điểm xuất phát và xác định số chữ số ngẫu nhiên được chọn

Lưu ý: Cần quy định chọn mẫu lập lại hay chọn mẫu không lặp lại.

  • Bước6: Xác định số luỹ kế từ số ngẫu nhiên đã được chọn. Có 2 cách lựu chọn số luỹ kế từ số ngẫu nhiên:
    • Cách1: Theo thông lệ quốc tế sẽ lấy số luỹ kế có giá trị lớn hơn số ngẫu nhiên.
    • Cách2: Chọn số luỹ kế có khoảng cách gần hơn đến số ngẫu nhiên.
  • Bước7: Xác định số dư (số tiền) từ số luỹ kế đã được lựa chọn.

Chọn mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị tiền tệ theo khoảng cách.

Các bước tiến hành:

  • Bước1: Xác định số luỹ kế (hay số cộng dồn).
  • Bước2: Xác định quy mô tổng thể.
  • Bước3: Xác định kích cỡ mẫu.
  • Bước4: Xác định khoảng cách cố định.
  • Bước5: Xác định điểm xuất phát và lựa chọn các số ngẫu nhiên.
  • Bước6: Xác định số luỹ kế từ số ngẫu nhiên đã được lựa chọn.
  • Bước7: Xác định số dư hay số tiền từ số luỹ kế đã được chọn.


【#7】Ứng Dụng Phương Pháp Lai Hữu Tính Chọn Tạo Giống Lúa Thuần Năng Suất, Chất Lượng Cao

Thanh Hóa là vùng lúa trọng điểm của khu vực Bắc Trung bộ với diện tích trồng lúa hàng năm đạt gần 250.000 ha, trong đó diện tích lúa lai chiếm 25-30%, còn lại là lúa thuần.

Xu hướng hiện nay của người dân là sử dụng giống lúa thuần chất lượng có giá trị hàng hóa cao, mang lại hiệu quả cho người sản xuất. Thực tế sản xuất lúa cho thấy, từ lâu Thanh Hóa đã trở thành thị trường rộng lớn của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh giống lúa các loại. Thị trường giống lúa đa dạng và phong phú là cơ hội cho người sản xuất, tuy nhiên giống lúa có chất lượng tốt đang là nhu cầu cấp bách mà các địa phương, doanh nghiệp và nông dân đang lựa chọn để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp nói chung và tái cơ cấu nghề trồng lúa nói riêng.

Hiện nay, mỗi năm có tới hàng chục giống lúa mới được đưa vào khảo nghiệm, sản xuất thử tại các địa phương. Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ kỹ thuật trong lai tạo giống lúa đã mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho bà con nông dân. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra môi trường cạnh tranh và đào thải rất khốc liệt. Để tồn tại, phát triển được, các giống lúa phải hội tụ được nhiều ưu điểm như: Năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt tốt. Giống lúa Bắc Thịnh, bắt đầu chọn tạo từ năm 2006, kế thừa kết quả nghiên cứu, phạm vi đề tài tiếp tục công tác khảo nghiệm, chọn lọc, làm thuần, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, hoàn thiện hồ sơ công nhận giống. Qua nhiều vụ trồng khảo nghiệm, sản xuất thử, xây dựng mô hình trình diễn tại các vùng sinh thái trong tỉnh, cho thấy giống lúa Bắc Thịnh sinh trưởng khỏe, chịu rét, chống đổ, chống chịu tốt với sâu bệnh trong điều kiện bất thuận của thời tiết. Lúa có độ thuần cao, khi trổ đồng đều, nhanh gọn, thời gian chín nhanh. Chỉ sau hơn 2 năm được công nhận đưa vào sản xuất đại trà, nhờ chất lượng gạo thơm ngon, lúa gạo thương phẩm dễ bán, hiệu quả kinh tế cao, giống Bắc Thịnh luôn có mặt trong cơ cấu giống chủ lực của tỉnh, đồng thời vươn ra các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

Có thể nói, Bắc Thịnh là một trong số không nhiều các giống lúa mới nói chung và giống lúa do Thanh Hóa chọn tạo nói riêng, có khả năng phát triển nhanh chóng và cạnh tranh tốt trên thị trường. Đây chính là thành công của liên kết chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông trong giai đoạn tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa sản phẩm tiến bộ khoa học ra ứng dụng rộng rãi, hiệu quả trên đồng ruộng. Sau khi công nhận sản xuất thử, từ năm 2021 giống lúa Bắc Thịnh được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng khoa học – kỹ thuật giống cây trồng nông nghiệp Thanh Hóa triển khai sản xuất với diện tích lớn trên địa bàn các xã Xuân Trường, Xuân Phong, Thọ Lộc, Xuân Quang, Phú Yên, Hạnh Phúc… (Thọ Xuân) với tổng diện tích 200 ha giống đạt tiêu chuẩn xác nhận 1; Thiệu Vân, Thiệu Lý (Thiệu Hóa) diện tích 100 ha; Vĩnh Yên, Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc) diện tích 50 ha. Tổng sản lượng thu được là 500 tấn giống đạt tiêu chuẩn xác nhận 1. Mặc dù trong giai đoạn sản xuất thử nhưng giống Bắc Thịnh đã được nông dân tham gia sản xuất hồ hởi đón nhận và mong muốn được cơ quan tác giả chủ động nguồn giống tiếp tục mở rộng diện tích đáp ứng nhu cầu cho bà con nông dân.

Từ năm 2021, sau khi giống lúa Bắc Thịnh được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận chính thức giống đã trở thành giống chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giống cây trồng của tỉnh Thanh Hóa và một số tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ. Tại Thanh Hóa, dưới sự quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng giống đã được thông qua kênh từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh, trạm khuyến nông các huyện đến các HTX dịch vụ và được phân phối tới bà con nông dân.

Về hiệu quả khoa học và công nghệ, kết quả của công trình đã chọn tạo được Bắc Thịnh có năng suất cao hơn giống Bắc Thơm số 7 từ 11,4-12%, chất lượng gạo tương đương và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn Bắc Thơm số 7; giống lúa trên đã được Cục Trồng trọt cấp văn bằng bảo hộ giống cây trồng. Khẳng định năng lực nghiên cứu, chọn tạo giống lúa mới của tỉnh, giúp Thanh Hóa chủ động hơn về nguồn giống, giảm bớt sự phụ thuộc vào công tác nhập nội giống từ Trung Quốc và các tỉnh ngoài, đồng thời sẽ bổ sung và làm phong phú thêm nguồn giống lúa thuần chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Kết quả sản xuất giống Bắc Thịnh cho năng suất cao hơn và chi phí thuốc bảo vệ thực vật ít hơn nên hiệu quả kinh tế đạt cao hơn khi giống Bắc Thơm số 7 là 6.540.000 đồng/ha. Chỉ tính riêng năm 2021, 2021 (sau khi giống được công nhận chính thức) lượng giống được mở rộng và trở thành giống chủ lực của nhiều địa phương, trung bình lượng giống tiêu thụ 1.000 tấn/năm, tương đương với diện tích 50.000 ha.

Hiện nay, giống lúa Bắc Thịnh đang là một trong những giống lúa chủ lực của nhiều địa phương và được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa vào cơ cấu giống cây trồng hàng năm phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh. Với những ưu điểm nêu trên, công trình “Ứng dụng phương pháp lai hữu tính chọn tạo giống lúa thuần, năng suất, chất lượng cao tại tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Lê Thị Khánh, cán bộ Phòng Quản lý khoa học – Trung tâm Nghiên cứu khảo nghiệm và dịch vụ cây trồng (Viện Nông nghiệp Thanh Hóa) cùng 4 đồng tác giả đã được Hội đồng KH&CN tỉnh Thanh Hóa xét tặng Giải thưởng KH&CN Thanh Hóa năm 2021.

Tr.H


【#8】# 1【Phương Pháp】Cách Chiết Cành Cây Hoa Sứ Nhanh Ra Rễ

Cây hoa sứ được rất nhiều người yêu thích, cây còn được mệnh danh là HOA HỒNG SA MACH với vẻ đẹp và sức sống của cây , tạo nên điểm nhấn và sức hút mới ở những nơi khô cằn nhất. cây hoa sứ không phải là cây bản địa, được nhập khẩu vào nước ta rừ Thái Lan và ngày nay gần như được xem là cây bản địa, được rất nhiều người yêu thích, tuy nhiên để có thể chăm sóc được những cây hoa sứ thì chúng ta tìm hiểu về những đặc điểm của cây và cách chăm sóc khi cây phát triển.

Đặc điểm cây hoa sứ

Cây hoa sứ là giống cây có thân mập, ọng nước, bộ rễ khỏe mạnh phát triển phình to, gốc cây lớn, cây có bộ lá màu xanh bóng hoặc xanh xám, bộ lá tập trung ở phần đầu cành.

Khi vào mùa lạnh cây thường ngủ đông và trút bỏ toàn bộ lá của cây, khi mùa xuân tới cây bắt đầu ra bộ lá khỏe mạnh.

Hoa của cây hoa sứ có 5 cánh mỏng, dạng phểu, hoa có màu từ trắng đến đỏ, ngoài ra hiện nay cây hoa sứ được lai ghép đều có nhiều cánh và màu sắc rực rỡ hơn rất nhiều.

Khi trồng cây thì chúng ta nên lựa chọn nơi có nhiều ánh nắng để trồng, vì cây hoa sứ rất ưa ánh sáng, hạn chế tối đa việc ngập úng cây vì bộ rễ của cay không chịu được ngập úng.

Cây hoa sứ nên trồng vị trí nào

Cây hoa sứ hiện nay thường thấy ở nhiều nơi, đặc biệt là như đền chùa, miếu mạo, khu tưởng niệm, cây còn mang đến ý nghĩa cầu chúc bình an nên thường thấy ở các khu bện viện và nơi người mất vì vậy mà có rất nhiều người không lựa chọn cây sứ để trồng trong sân vườn.

Hiện nay trên thị trường có loại sứ thái đỏ tên gọi là: Adenium là loại cây thích hợp trồng trang trí trước nhà hay khu sân vườn, lối đi lại và cây cảnh để bàn đẹp.

Ý nghĩa phong thủy cây sứ thái đỏ

Cây sứ thái đỏ được rất nhiều người yêu thích, cây mang đến nhiều hồng phúc cho gia chủ, giúp cho công việc thêm thuận buồn xuôi gió và mang đến cuộc sống vui vẻ, vào những ngày tết thì ở nhiều nơi sẽ lựa chọn những chậu sư thái đang ra hoa để trưng trong nhà để cầu bình an cho cả gia đình và cầu mong năm mới đầy may mắn.

ƯU ĐIỂM CHIẾT CÀNH HOA SỨ

Chiết cành cây hoa sứ là phương pháp nhân giống nhanh , đạt 90% tỉ lệ sống, trong quá trình chiết cành hoa sứ, cành con vẩn sống nhờ vào thân của cây mẹ. nên vẩn được cung cấp các chất dinh dưỡng từ cây mẹ.

Chuẩn bị dụng cụ chiết cành sứ.

Để có thể chiết được những cành cây hoa sứ ta nên chuẩn bị đầy đủ các công cụ dụng cụ để có thể tiến hành chiết cây hoa sứ một cách nhanh và hiệu quả, các dụng cụ cần thiết bao gồm:

Tiến hành chiết cây sứ

Nếu bạn chưa có nhiều kinh nghiệm chiết cành sứ thì hãy tham khảo qua cách chiết cành đặc biệt sau đây.

Khi chiết cành sứ có cách đặc biệt như: khất vỏ, xẻ hàm ếc, xẻ mỏ vịt, sau đây sẽ là chi tiết những cách chiết cành sứ đặc biệt

Là phương pháp giống như chiết các loại cây thông thường hiện nay, nhưng vẩn có thể áp dụng trên cây sứ, với đoạn chiều dài vỏ khất từ 2-3cm tùy nhánh lớn nhỏ, ta nên lựa chọn những nhánh lớn.

Dùng sao sắc khất vòng quanh thân nhánh, (lộ phần lõi trắng), sau đó để khô trong 5-10 ngày mới bó bầu bằng bột dừa hay rễ luc bình. Sau 1 tháng nhánh sứ có thể ra rễ, đợi rễ ra kín bầu chiết ta cắt xuống và đem trồng. Chu ý khi khất vỏ nhánh sứ phải được cặm cây chống đở nếu không nhánh sẽ bị gãy ngay chổ khấc, do gió.

Xẻ hàm ếch là phương pháp đơn giản hơn, đầu tiên ta lựa chọn nhánh to khỏe, dài để xác định vị trí chiết, xẽ ngược lên phía ngon với chiều sâu bằng 2/3 đường kính thân, sau đó để khô vết cắt trong 5-7 ngày cặm cây đở cho nhánh không gãy sau đó đem bầu như phương pháp khất vỏ. Sau 30 ngày nhánh sứ ra rễ tốt, có thể cắt xuống đem trồng

Xẻ mỏ vịt là phương pháp có tác dụng tốt hơn 2 phương pháp trên, với phương pháp này nhánh cây phải xẻ hàm khá dài, nhưng đổi lại bộ rể sẽ khỏe mạnh hơn.

Chú ý khi xẻ hàm mõ vịt, phần mở rộng miệng lúc nào cũng nằm phía dưới chiều nghiên cua nhánh sứ để tránh làm tét nhánh. Sau khi xẽ hàm ta cũng để khô 5-7 ngày rồi mới bó bầu. Sau 30 ngày nhánh sứ ra rễ đều, ta có thể cắt để trồng.

Để như vậy từ 3 – 5 ngày cho khô nhựa. Sau đó dùng bột dừa, hay rễ lục bình bó chỗ vết ghép lại. Có thể bổ sung thêm thuốc kích thích ra rễ để nhanh chóng đạt kết quả.

– Thường sau khoảng 30 – 40 ngày, rễ bắt đầu nhú ra. Lúc này có thể cắt nhánh chiết, để cho khô nhựa rồi đem trồng. Cây sứ chiết cành cũng như cây sứ giâm cành, nhưng chiết cành giúp cây sứ mới mau ra rễ hơn, áp dụng cho những trường hợp muốn nhân giống một giống sứ đẹp.

LƯU Ý

Giai đoạn đầu khi cắt nhánh chiết đã ra bộ rễ khá khỏe và trồng vào trong chậu, ta có thể lựa chọn những chậu bé, sau khoảng 4-5 tháng khi cây bắt đầu lớn lên , ta mới chuyển sang chậu lớn hơn với chất đất tốt hơn, ở giai đoạn này ta phải dưỡng cây sứ con ở nơi ít bị mưa trong tháng đầu, cây trồng phài buộc chặc vào cây cọc trụ, tránh lay gốc, làm đứt rễ non. Có thể bón thêm phân dưỡng lá Atonik, komic, humic…để ngọn lá phát triển mạnh , nhanh.

Cách giâm cành hoa sứ thái lan

cách giâm cành hoa sứ thái lan (Adenium obesum) được rất nhiều người biết đến, cây khá là dễ chăm sóc, hoa đẹp, phát triển rất nhanh , cây đẹp , tuy nhiên trong quá trình giâm cành cây hoa sứ thường sễ bị hư thối hom giống, đó cũng là tình trạng chung của tất cả mọi người. bài viết sau đây sẽ hướng dẩn cách giâm cành hoa sứ thái lan không bị hư thối hom giống.

LỰA CHỌN HOM SỨ GIỐNG

Để lựa chon được những hom giống tốt, chất lượng ta nên lựa chọn những nhánh tương đối già, dài khoảng 30cm trở lên, khi đó vỏ nhánh sứ đã chuyển từ màu xanh sang màu mốc xám , đường kính của nhánh phải từ 3cm trở lên là đủ điều kiện làm hom giống tốt.

Khi tiến hành cắt hom giống, ta phải dùng dao thật sắc, có lưỡi mỏng và tránh làm bầm giập vết cắt. Cắt ngang nhánh (không cắt xéo) cách chỗ chãng hai về phía gốc 10-15 cm, để sau này dễ tạo thế cây đẹp

Để hom khỏe mạnh hơn, ta nên cắt hom và buổi sáng, khi cắt xong ta nên dùng vôi bôi lên chỗ cắt trên và trên hom cắt cây để sát trùng rồi treo ngược nhánh để nhựa không chảy ra nhiều.

đặt nhánh ở chỗ mát có mái che mưa nắng. Cắt bỏ bớt 1/2-2/3 lá của những lá lớn để giảm bớt sự mất nước qua lá khi trồng. Sau khi cắt hom 15-20 ngày vết cắt khô nhựa tạo thành sẹo mới đem giâm. Ngoài cách cắt hom như trên có thể làm như sau: chỉ cắt đứt khoảng 2/3 đường kính nhánh rồi lật ngược đoạn nhánh đó xuống, vài ngày sau chỗ cắt sẽ lành, sẹo lồi lên để chuẩn bị ra rễ thì cắt tiếp chỗ còn dính lại với cây mẹ, sau đó cũng chờ cho chỗ mới cắt khô nhựa lên sẹo thì đem giâm.

Để bộ rễ khỏe mạnh và phát triển tốt ta nên lựa chọn đất trồng tơi xốp và không giữ nước, vì vậy khi lựa chọn đất chúng ta nên chọn thật kỹ, nếu muốn đất tốt và thoát nước tốt ta có thể trộn đất thêm với phân muc,tro trấu, hat cát giúp khả năng thoát nước tốt hơn. Hạt giống củ

Đặc biệt ở phần đáy chậu trồng phải có lỗ thoát nước, khi cho đất vào chậu bỏ vào đáy chậu một lớp xỉ than hoặc cát sỏi. Có thể trồng vào các giỏ tre có lót một lớp rơm, rác mỏng dưới đáy và xung quanh để dễ thoát nước.

  • – Trồng hom sâu 3-4 cm, cắm cọc buộc hom để hom không bị đổ ngã.
  • – Khi mới trồng mỗi ngày chỉ phun sương một ít nước, khi cây sống mạnh ra lá mới thì tưới ít nước để đất vừa đủ ẩm.

Để giúp cây phát triển tốt hơn ta nên để những chậu cây sứ vào chỗ mát, sau khoảng thời gian từ 2-3 tháng mới đưa dần cây tới nơi có nhiều ánh sáng để hom cây làm quyen dần với ánh sáng để giúp cây con phát triển tốt hơn .

Khi cây đã ra nhiều rễ, lúc này bộ rễ của cây phát triển , lá của cây cũng nhiều hơn và than cầy cũng bắt đầu phát triển dài ra, ta nên bón thêm phân NPK, để giúp cây có đủ chất dinh dưỡng phát triển, khoảng 3-4 tháng sau khi trồng cây hoa sứ, cây sẽ bắt đầu ra hoa.


【#9】Mổ Lấy Thai Chọn Phương Pháp Vô Cảm Nào Tốt Nhất

Nhược điểm :

Phần lớn các trường hợp mổ lấy thai (MLT) được vô cảm bằng phương pháp tê vùng đó là tê tủy sống (TTS) hoặc tê ngoài màng cứng (NMC) thậm chí phối hợp cả hai phương pháp (CSE)

Tê tủy sống là gì?

Bác sỹ gây mê sẽ tiêm một lượng thuốc tê vừa đủ vào khoang dưới nhện ở vị trí thắt lưng sản phụ, thuốc tê nhanh chóng tác dụng làm bạn mất cảm giác và vận động nửa thân dưới, sản phụ hoàn toàn tỉnh táo trong suốt cuộc mổ. TTS là phương pháp được ưa dùng nhất.

  1. Kỹ thuật dễ thực hiện
  2. Thời gian chờ mổ ngắn
  3. Giảm đau tốt trong vòng 4h đầu sau mổ, mẹ mau hồi phục.
  4. Mẹ tỉnh táo giúp việc tiến hành da kề da thuận lợi
  5. Con khỏe, không ảnh hưởng thuốc gây tê

Ưu điểm :

  1. Thay đổi huyết động đột ngột sau TTS gây ra hạ huyết áp, mạch chậm. Bác sỹ gây mê sẽ dùng thuốc để khắc phục tình trạng này. Tuy nhiên đây là lý dokhông một bác sỹ gây mê nào TTS cho những sản phụ đang hoặc có nguy cơ chảy máu nhiều ( rau tiền đạo trung tâm, rau cài răng lược), những sản phụ có nguy cơ rối loạn đông máu (rau bong non, tiền sản giật nặng) và những sản phụ có bệnh lý tim mạch nặng nề, nhiễm trùng toàn thân nặng.
  2. Đau đầu sau gây tê tần suất gặp 1/500 sản phụ được TTS. Trường hợp nặng có thể kéo dài đến 1 tuần, bác sỹ gây mê sẽ điều trị cho bạn hết triệu trứng.

Nhược điểm :

Tê ngoài màng cứng là gì ?

Bác sỹ gây mê sẽ bơm một lượng thuốc tê vừa đủ qua catheter vào khoang NMC ở vị trí thắt lưng sản phụ, thuốc tê phát huy tác dụng làm bạn mất cảm giác vùng phẫu thuật có thể giảm vận động nửa thân dưới, sản phụ cũng tỉnh táo trong khi được phẫu thuật. Tê NMC là phương pháp ít được dùng hơn TTS, thường áp dụng cho những trường hợp đã giảm đau trong đẻ song vì các lý do sản khoa sản phụ không sinh thường được phải chuyển mổ.

Việc phối hợp TTS và NMC rất phổ biến nhằm đạt vô cảm nhanh và duy trì giảm đau sau mổ kéo dài

  1. Ít thay đổi huyết động
  2. Giúp giảm đau tốt sau mổ trong vòng 48h bằng việc truyền thuốc liên tục qua catheter NMC giúp mẹ nhanh hồi phục
  3. Mẹ tỉnh táo thực hiện da kề da dễ dàng
  4. Con khỏe không ảnh hưởng thuốc gây tê

Ưu điểm :

  1. Thời gian chờ mổ kéo dài (10-15 phút)
  2. Kỹ thuật gây tê phức tạp hơn, phải lưu catheter trong thời gian cần giảm đau.

Nhược điểm :

Gây tê vùng là phương pháp an toàn hiệu quả, giúp giảm tỷ lệ tai biến trong gây mê, tuy nhiên một lượng nhỏ sản phụ vẫn cần gây mê toàn thân cho cuộc mổ, đó là những sản phụ không được phép TTS như đã đề cập ở trên và những trường hợp suy thai nhịp tim thai chậm cần lấy thai khẩn cấp.

Gây mê toàn thân là gì ?

Gây mê toàn thân gây ra tình trạng mất ý thức và cảm giác hoàn toàn, sản phụ được thở bằng máy qua ống nội khí quản. Bác sỹ gây mê sẽ theo dõi các dấu hiệu quan trọng của bạn, duy trì trạng thái mêvà giúp bạn thức tỉnh khi cuộc mổ kết thúc.

  1. Ít thay đổi huyết động, có thể kéo dài vô cảm nếu cuộc mổ phức tạp.
  2. Lấy thai nhanh trong trường hợp khẩn cấp
  1. Nguy cơ trào ngược có thể sảy ra ở các trường hợp mê toàn thể do sự giãn các cơ đường tiêu hóa, nguy cơ này cao hơn ở sản phụ do dạ dày bị tử cung đẩy nằm ngang gây ra viêm phổi và các tổn thương khác
  2. Đặt nội khí quản cho sản phụ khó khăn do thay đổi giải phẫu trong quá trình mang thai dẫn đến nguy cơ suy hô hấp.
  3. Ức chế hô hấp ở trẻ sơ sinh do ngấm thuốc mê
  4. Không tiến hành da kề da trên sản phụ gây mê
  5. Sản phụ thường đau ngay khi thức tỉnh
  6. Sản phụ có cảm giác ngầy ngật sau gây mê


【#10】Phương Pháp Giáo Dục Sớm Montessori

Tiểu sử bà Maria Montessori

TS. Maria Montessori sinh ngày 31/08/1870 tại một thị trấn nhỏ ở Chiaravalle nước Ý.

Bà là nhà giáo dục, bác sĩ người Ý. Năm 26 tuổi sau khi tốt nghiệp Đại học Roma, bà được giữ lại làm Bác sĩ chuyên khoa lâm sàng tại viện tâm thần của trường và trở thành nữ Bác sĩ đầu tiên trong lịch sử nước Ý.

Sau đó bà tiếp tục học về giáo dục học, tâm lý học và miệt mài nghiên cứu về phương pháp giáo dục sớm Montessori dành cho trẻ chậm phát tiển.

Vào năm 1907 bà thu được nhiều thành quả tích cực và phương pháp của bà ra đời từ lúc đó.

Năm 1929 bà trở thành Hiệu trưởng một trường dạy các trẻ chậm phát triển tại chúng tôi nước Ý. Tại đây, bà đã áp dụng phương pháp giáo dục của mình và thu được nhiều thành công.

Sự thành công trong phương pháp giáo dục của bà đã tạo nên sự thay đổi mang tính cách mạng cho nên giáo dục thế giới, đặc biệt là giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non từ 0 – 6 tuổi.

Maria Montessori là một nhà giáo dục vĩ đại, để ghi nhận sự đóng góp to lớn của bà dành cho ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non. Bà được ba lần đề cử giải Nobel hòa bình dành cho ngành giáo dục vì sự cống hiến của bà.

Phương pháp giáo dục sớm Montessori là gì? Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp giáo dục sớm Montessori

Phương pháp giáo dục sớm Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ em dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm của nữ Bác sĩ, nhà giáo dục học người Ý Maria Montessori.

Đây là phương pháp với nhiều tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác.

Maria Montessori bắt đầu phát triển phương pháp và triết lý giáo dục của mình vào năm 1897, sau khi tham sự khóa học giáo dục tại trường Đại học Roma và những nghiên cứu về giáo dục hai năm sau đó.

Năm 1907, bà mở lớp học đầu tiên của mình mang tên Casa dei Bambini, hay còn gọi là Children’s House (Ngôi nhà trẻ thơ) tại một khu căn hộ nằm ở thủ đô Roma.

Ngay từ đầu, bà đã bắt đầu thực hiện phương pháp giáo dục của mình thông qua việc quan sát những trải nghiệm của trẻ, cách trẻ phản ứng với môi trường xung quanh, với các học cụ Montessori và các bài học được thiết kế dành riêng cho trẻ.

Trong giai đoạn này, bà đã quan sát và nhận thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật dụng và học liệu Montessori được thiết kế trợ giúp sự cảm nhận các giác quan của trẻ.

TS. Maria Montessori tiếp tục phát triển các bộ giáo cụ Montessori riêng biệt, hướng đến sự chuyên biệt và đa dạng để phù hợp với đặc tính riêng biệt của trẻ.

Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tùy theo khả năng riêng của mình với thời gian riêng biệt. Vì vậy, việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessori phải đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ.

Phương pháp giáo dục sớm Montessori sau đó được phát triển, mở rộng ra trên toàn nước Mỹ năm 1911 và được biết đến rất nhiều thông qua các phương tiện thông tin, đặc biệt là việc xuất bản thành sách.

Tuy nhiên, do sự mâu thuẫn giữa Montessori và một số nhà giáo dục Mỹ khác thời bấy giờ. Đặc biệt là sau khi cuốn sách “The Montessori System Examined” tạm dịch là “Khảo sát hệ thống giáo dục Montessori” do một nhà giáo dục học nổi tiếng William Heard Kilpatrick phát hành vào năm 1914, làm cho phương pháp Montessori của bà bị lu mờ đi.

Nó chỉ thật sự trở lại, thâm nhập vào nước Mỹ vào năm 1960 và được áp dụng tại hàng nghìn trường học mầm non tại quốc gia này.

Bà Maria Montessori tiếp tục công việc giảng dạy của mình trong suốt quãng đời còn lại. Bà nghiên cứa và phát triền toàn diện và trình hình thành, phát triển tâm lý của trẻ từ giai đoạn sơ sinh đến 12 tuổi.

Bà đã xây dựng phương pháp giáo dục dành cho trẻ từ 0 – 6 tuổi, từ 6 – 12 tuổi.

Chương trình Montessori dành cho trẻ từ 12 – 18 tuổi cũng được bà nghiên cứu và lên chương trình, tuy nhiên nó không được phát triển và thời của bà.

Ngày nay, phương pháp giáo dục sớm Montessori đã được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, có trên 110 quốc gia áp dụng với hơn 25000 trường học. Ngoài ra, có rất nhiều bậc cha mẹ cũng áp dụng phương pháp giáo dục sớm Montessori tại nhà theo đúng các nguyên tắc của Montessori và thu được nhiều thành công.

Tại Mỹ có hơn 6000 trường học được đào tạo theo phương pháp Montessori, tại Nhật có hơn 4000 ngàn trường mầm non Montessori, tại Trung Quốc có hơn 7000 ngàn trường học Montessori, tại Anh có hơn 800 trường học,…..

Tại Việt Nam, phương pháp giáo dục Montessori ới được biết đến và thật sự áp dụng trong vài năm trở lại đây, và được sự đón nhận đông đảo từ nhiều bậc cha mẹ.

Triết lý giáo dục sớm Montessori, đặc trưng cơ bản của phương pháp giáo dục sớm Montessori

Triết lý giáo dục Montessori là gì?

Triết lý giáo dục của phương pháp Montessori là tôn trọng SỰ TỰ DOSỨC SÁNG TẠO của con người.

Trên cơ sở đó, Montessori cho rằng giáo dục trẻ là giúp các em phát triển theo đúng tính cách riêng của mình, có tư duy sáng tạo, phản biện, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển con người, là động lực chính cho sự thay đổi và phát triển,tiến bộ của xã hội và loài người.

Những đặc trưng cơ bản của phương pháp Montessori

Theo tổ chức AMI (Hiệp hội Montessori quốc tế) và AMS (Hiệp hội Montessori Hoa Kỳ) đã nêu ra năm đặc trưng cơ bản của phương pháp Montessori như sau:

    Lớp học Montessori ghép các nhóm lứa tuổi lại với nhau.

Thông thường một lớp học Montessori sẽ có các trẻ ở nhiều độ tuổi ghép lại với nhau. Với mô hình này, các bé lớn có thể giúp đỡ và hướng dẫn các em nhỏ tuổi hơn mình.

Đồng thời các trẻ nhỏ tuổi hơn cũng sớm được làm quen với môi trường học tập mầm non.

Thông qua đó, trẻ lớn hơn được rèn luyện tính hòa đồng và giúp đỡ người khác, các trẻ nhỏ tuooit hơn thì trở nên linh hoạt hơn, chúng chủ động hơn trong việc thực hành các trò chơi và kỹ năng sống.

    Trẻ tự lựa chọn các hoạt động cho mình (Với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch và sắp xếp trước).

Khi được tự do lựa chọn các hoạt động trong khuôn khổ cho phép, trẻ sẽ chọn cách mà trẻ thích làm nhất.

Từ đó giáo viên và các bậc cha mẹ có thể quan sát và nhìn thấy được những ưu điểm và thế mạnh của trẻ.

Sự chủ động sẽ giúp trẻ trở nên hoạt bát và sáng tạo hơn.

    Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình làm việc.

Mục tiêu của phương pháp Montessori là dạy cho trẻ biết tập trung. Đây là một kỹ năng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến việc học và cuộc sống của trẻ sau này, nhưng lại bị bỏ quên bởi phương pháp giáo dục truyền thống.

Một bài học trong phương pháp Montessori, giáo viên không được phép tự ý ngắt quãng sự tập trung của trẻ khi phải chuyển sang bài học mới, mà chưa hoàn thành bài cũ.

Mách nhỏ cho các mẹ,

Khi trẻ ở nhà, các bố mẹ cũng không nên ngắt quãng con khi con đang tập trung làm một việc gì đó. Hãy để con tự làm và tìm cách giải quyết vấn đề mà trẻ gặp phải, dần dần trẻ sẽ quen và làm tốt việc đó. hãy xem đó là những bài học và thử thách dành cho trẻ.

    Nghe sẽ quên, nhìn sẽ nhớ, làm sẽ hiểu.

Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với một điều mới, nếu chỉ đơn giản là nói cho trẻ hiểu thì đó là một sai lầm.

Bởi lẽ, trẻ sẽ quên ngay lập tức những gì mà bạn đã nói với trẻ ngay trước đó, kiến thức đọng lại trong trí não của trẻ là bằng không.

Ở độ tuổi này, trẻ rất hiếu động và mau quên. Bố mẹ có thể vừa nhắc trẻ một vấn đề nào đó thì một lúc sau trẻ có thể quên sạch.

Khi áp dụng phương pháp giáo dục sớm Montessori, trẻ sẽ tiếp cận kiến thức thông qua thực hành trực tiếp để trẻ được hiểu và trải nghiệm vấn đề một cách cặn kẽ nhất.

Ở các trường mầm non Montessori, trẻ sẽ được thực hành thông qua các giáo cụ Montessori do chính bà Maria Montesori thiết kế. Phụ huynh có thể tự làm cho trẻ ở nhà hoặc mua cho trẻ thực hành tại nhà.

Khi học theo phương pháp Montessori, trẻ sẽ thu nhận kiến thức thông qua các hoạt động vui chơi của mình. Những hocatj động này được thực hiện trên các bộ học liệu Montessori đạt chuẩn quốc tế hoặc do chính giáo viên tự thiết kế riêng biệt dành riêng cho trẻ.

Thông qua các , trẻ có thể học cách nhận biết các hình, các chữ, các con vật và màu sắc khác nhau.

Mục tiêu của phương pháp giáo dục Montessori

Tự lập là một đặc tính quan trọng cần được trang bị cho trẻ, nhất là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Khi mà mọi trẻ sinh ra được sự quan tâm và đùm bọc của người lớn.

Ví dụ: Các bậc cha mẹ nên để trẻ tự đi, tự cầm ly uống nước, tự chạy nhảy, tự tưới cây, quét nhà, tự dùng thìa xúc thức ăn. Nếu chúng ta cứ bế ẫm nhiều thì vô hình chung các mẹ lại tước đi cơ hội được rèn luyện các kỹ năng của trẻ.

Dần dần trẻ sẽ trở nên thành thạo các kỹ năng đó, và chúng sẽ tự làm những gì chúng thích mà không cần sự giúp đỡ của bố mẹ nữa.

Thật là tốt phải không các mẹ:3

Phương pháp giáo dục sớm Montessori khuyến khích bố mẹ để cho trẻ tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày càng nhiều càng tốt và càng sớm càng tốt.

Trẻ em ngày nay gặp phải vấn đề lớn về khả năng tập trung, vấn đề này còn biểu hiện ở những lứa tuổi lớn hơn. Trong thời buổi công nghệ phát triển như hiện nay, trẻ thường dồn sự chú ý vào chiếc Tivi, Ipad….

Về lâu dài thật là không tốt cho trẻ về cả thị lực lẫn sự phát triển trí não. Thay vào đó các mẹ nên cho trẻ tham gia các trò chơi vật lý, để trẻ động não sẽ tốt hơn.

Khi trẻ tự mình khám phá một trò chơi nào đó, thì bố mẹ không được phép ngắt quãng và can thiêp. Khi nào trẻ cả thấy chán món đồ chơi đó thì trẻ tự chuyển sang trò chơi khác liền thôi.

Việc này sẽ góp phần luyện tập khả năng tập trung của trẻ.

Nếu trẻ có phòng riêng, thì bố mẹ làm thật nhiều ngăn và tủ nhỏ.

Để trẻ cất đồ chơi, quần áo và các vật dụng một cách ngăn nấp có trật tự vào các ngăn đó. Tập cho trẻ dọn dẹp và cất đồ chơi sau khi chơi xong.

Montessori khuyến khích bố mẹ cho trẻ được gần gũi với thiên nhiên. Chẳng hạn như cho trẻ tưới cây, ngắm hoa lá, tìm hiểu về tự nhiên và thế giới quanh ta..v.v

Đối với đồ chơi thì nên chọn những chất liệu tự nhiên như gỗ, hạn chế đồ nhựa và sản phẩm dùng pin, vì chúng làm cho trẻ ít động não.

Tự do không có nghĩa là trẻ được làm bất cứ những gì chúng muốn. Theo quan điểm của Montessori thì tự do được hiểu là trẻ được phép lựa chọn cái mà chúng muốn làm trong một số thứ mà bố mẹ và thầy cô đã chon và chuẩn bị sẵn.

Khi đó trẻ cảm thấy được thoải mái mà không bị ép buộc.

Trong cách thiết kế phòng ốc và đồ dùng cho trẻ. Montessori hướng đến cái đẹp và thẫm mỹ một cách đơn giản.

Ví dụ như: Bàn học của trẻ có một bình hoa nhỏ, với loại hoa mà trẻ thích. Hay như phòng học trẻ có treo vài bức tranh có độ tương phản cao.

Các nguyên tắc chung của phương pháp giáo dục sớm Montessori

Nguyên tắc 1: Tôn trọng trẻ

Nguyên tắc 2: Thời kì nhạy cảm

Nguyên tắc 3: Trí tuệ thẩm thấu

Nguyên tác 4: Nhóm tuổi hỗn hợp

Nguyên tắc 5: Môi trường chuẩn bị

Nguyên tắc 6: Giáo cụ Montessori

Nguyên tắc 7: Vai trò của giáo viên

Nguyên tắc 8: Các góc giảng dạy trong Montessori

Các góc giảng dạy trong phương pháp giáo dục sớm Montessori:

Các nguyên tắc xây dựng môi trường lớp học theo phương pháp Montessori

Mỗi lớp học Montessori cần có đủ những yếu tố sau:

    Thiết kế lớp học, chuẩn bị kỹ môi trường lớp học cho trẻ.

Lớp học Montessori tạo ra một môi trường học tập có nhiều sự lựa chọn cho trẻ. Các giáo cụ được chứa trong những kệ riêng biệt, ngăn nắp.

Lớp học có không gian để phù hợp với hoạt động theo nhóm, và có khu vực riêng để trẻ hoạt động theo nhu cầu cá nhân.

Phòng học có những bàn nhỏ và những tấm thảm được trải trên sàn nhà để trẻ học tập thuận lợi. Trong lớp học có giá đựng sách và khu đọc sách ở một góc nhằm phục vụ nhu cầu học tập của trẻ.

Giáo cụ được thiết kế tinh xảo, đạt chuẩn, sẽ rất cuốn hút trẻ. Những giáo cụ này được chia thành các môn học khác nhau, có mức độ từ dễ đến khó và được sắp xếp vào kệ ở từng khu riêng biệt.

    Cô giáo như người dẫn đường

Giáo viên, trẻ và môi trường là 3 nhân tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, giáo viên cần biết cách chuẩn bị một môi trường học tập chu đáo với các học cụ phù hợp để tạo sự cuốn hút học sinh.

Giáo viên làm mới các bài học để kích thích sự tò mò, ham học của trẻ, giáo viên Montessori sẽ quan sát các hoạt động của trẻ và ghi nhận lại sự thay đổi, tiến bộ của trẻ để có cách điều chỉnh phù hợp và đúng lúc.

    Lớp học có sự pha trộn độ tuổi

Việc pha trộn độ tuổi là nét đặc trung của phương pháp Montessori, tuy nhiên các thầy cô giáo cần chú ý là độ chênh nhau không quá 3 tuổi trong một lớp học.

Việc tổ chức cấu trúc như vậy là hữu ích và cần thiết cho trẻ. Thúc đẩy sự trưởng thành và học hỏi của các trẻ tốt hơn.

    Lớp học luôn có sự yêu thương

Các trẻ trong lớp học Montessori luôn học cách hòa hợp và tôn trọng nhau, ít có chuyện các bé lớn quát bé nhỏ hơn. Thay vào đó là sự yêu thương, tôn trọng và giúp đỡ nhau. “Để mình giúp cho” là những từ ngữ mà ta thường hay gặp trong lớp học Montessori.

Thiết kế bài học theo phương pháp Montessori

Hướng dẫn áp dụng giáo án theo phương pháp giáo dục sớm Montessori

Phương pháp giáo dục Montessori hiện nay được rất nhiều thầy cô giáo và các bậc phụ huynh quan tâm và chỉ ý đến bởi kết quả khá bất ngờ của phuong pháp mang lại.

Hiểu được điều này, mình xin chia sẻ cách thức áp dụng giáo án phương pháp Montessori vào giảng dạy cho trẻ.

Mỗi bài học trong Montessori có một giáo trình hướng dẫn riêng để chi tiết và phù hợp với nhu cầu của trẻ.

Theo mình, thì các bậc cha mẹ và thầy cô giáo nên bắt đầu với góc “Thực hành cuộc sống và cảm quan” trước. Vì đây là hai nền tảng cơ bản nhất trong hệ thống giáo dục Montessori.

ở góc thực hành cuộc sống và cảm quan, trẻ được làm quen với các hoạt động gần gũi với cuộc sống hàng ngày như: Thu dọn đồ đạt, quét nhà, giữ vệ sinh chung,…

Mỗi thầy cô giáo và các bậc cha mẹ nên có một cuốn sổ ghi chép lại các hoạt động của trẻ, để có một kế hoạch phù hợp nhất cho từng trẻ.

Khi trẻ đã thật sự làm quen và nhuần nhuyễn với các bài học cũ rồi thì giáo viên và cha mẹ có thể cho con trải nghiêm những hoạt động phong phú hơn.

Lập kế hoạch theo dõi để phương pháp giáo dục sớm Montessori đạt kết quả tốt nhất.

Phương pháp Montessori không sử dụng giáo án theo ngày bởi đặc tính “TÔN TRỌNG SỰ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN” của trẻ.

Ở các trường Montessori, giáo viên phải luôn theo dõi tiến độ của từng trẻ để lập kế hoạch phù hợp cho từng em.

Các bài tập của phương pháp giáo dục mầm non Montessori sẽ bao gồm nhiều mức độ từ rất dễ như bài tập “lau bàn” trong thực hành cuộc sống, đến các bài tập phức tạp hơn như đếm số thập phân trong toán học. Các mức độ dù là cơ bản hay nâng cao thì đều quan trọng như nhau.

Lập kế hoạch tốt nghĩa là thầy cô và ba mẹ luôn theo dõi được trẻ và đánh giá chính xác tiến độ của trẻ. Khi trẻ đã nhuần nhuyễn và thuần thục ở cấp độ cơ bản rồi, giáo viên mới nên chuẩn bị những bài tập tiếp theo ở cấp độ cao hơn trong hệ thống giáo án phương pháp Montessori.

Vai trò của giáo viên Montessori

Những việc mà người giáo viên Montessori phải làm

  • Phải có năng lực chuyên môn sâu mới có thể đảm nhiệm tốt công việc giảng dạy.
  • Có sự tự tin, đơn giản và bình tĩnh trong mọi tình huống
  • Tạo ra môi trường học tập tốt cho trẻ.
  • Biết sử dụng ngôn ngữ cơ thể áp dụng vào các bài học một cách dễ hiểu, sinh động.
  • Sáng tạo qua từng bài giảng, sử dụng nhuần nhuyễn giáo cụ Montessori
  • Tạo không gian trang trí đẹp để thu hút các em.
  • Không ngừng học hỏi, nắm bắt kịp xu hướng của phát triển.
  • Có tinh thần làm việc nhóm.
  • Yêu trẻ, yêu nghề.

Thu nhập của giáo viên dạy Montessori như thế nào?

Mặt dù giáo viên Montessori không phải là nhân vật trung tâm của phương pháp giáo dục, nhưng có thể nói vai trò của học là đăc biệt quan trong. Công việc mà người giáo viên Montessori phải làm là rất nhiều và tỉ mỉ.

Chính vì vậy mà thu nhập và lương của giáo viên cũng cao hơn rất nhiều so với truyển thống. Trung bình lương giáo viên Montessori có thể đạt từ 600$ – 1200$, một số giáo viên Montessori giỏi có thu nhập khá cao lên đến 2000$/ tháng.

Thật là tốt phải không nào! Một điều thật thú vị là hiện nay, nhu cầu tuyển dụng giáo viên Montessori là rất nhiều.

Vì vậy các bạn sinh viên chuyên ngành mầm non, các bậc cha mẹ nên tìm học phương pháp Montessori để trở thành những người thầy, người cha, người mẹ tốt, ham hiểu sâu rộng để giúp những đứa trẻ hôm nay thành những người tài giỏi sau này.

Yêu cầu việc sử dụng giáo cụ Montessori

Giáo cụ Montessori đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả và thành công cho phương pháp giáo dục Montessori.

Trẻ em được học và trải nghiệm thông qua hiều loại giáo cụ Montessori để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Những giáo cụ này giống như đồ chơi vui nhộn, nhưng chúng được thiết kế theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt và an toàn.

Vì vậy, giáo cụ Montessori đúng chuẩn và chất lượng chính là công cụ hỗ trợ học tập thiết yếu trong phương pháp giáo dục sớm Montessori.

So sánh phương pháp giáo dục sớm Montessori với phương pháp giáo dục truyền thống

Sự khác biệt giữa phương pháp Montessori và phương pháp truyền thống?

Trong những năm đầu đời, sự hình thành năng lực cơ bản của trẻ là vô cùng quan trọng. Không chỉ dừng lại ở việc học mà còn phát triển các khả năng nhận thức, tập trung, kiên trì, đạo đức, tình cảm với mọi người xung quanh.

Thì ngược lại phương châm giáo dục của phương pháp Montessori là coi trọng sự phát triển toàn diện một cách tự nhiên của trẻ.

Ứng dụng phương pháp giáo dục sớm Montessori vào chương trình giáo dục Mầm non

Nền tảng của phương pháp Montessori là tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vò việc học thông qua trực quan sinh động. Trong đó giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ và định hướng cho trẻ thực hiện các hoạt động được giao.

Phương pháp giáo dục sớm Montessori đã được áp dụng vào chương trình giáo dục mầm non tại Việt nam trong vài năm gần đây và nhận đucợ nhiều sự quan tâm của thầy cô giáo và phụ huynh.

Gần đây, tại Hội thảo ứng dụng phương pháp Montessori trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Các chuyên gia về giáo dục mầm non, Hiệu trưởng các trường Đại học, lành đạo Bộ và Sở giáo dục đã có bài phát biểu và tham luận ” Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm theo phương pháp Montessori”.

Theo TS. Đặng Lộc Thọ, Hiệu trưởng trường CDDSPTW nhận định:

Phương pháp giáo dục Montessori mang lại hiệu quả trong việc tiếp cận phương thức dạy học lấy trẻ làm trung tâm. Vì những ưu điểm vượt trội về sự linh hoạt và sáng tạo trong các trường mầm non. Điều này đã gợi mở và hình thành nên những tư duy đổi mới đầy sáng tạo trong chương trình giáo dục mầm non tại Việt Nam hiện nay.

Tới đây, chúng ta có thể nhận định rằng, phương pháp giáo dục sớm Montessori mang lại nhiều hiệu quả to lớn trong việc giáo dục con cái, đặc biệt là trẻ em tuổi mầm non.

Mặt dù có rất nhiều phương pháp giáo dục trẻ khác nhau, như dạy con theo cách của người Do Thái, dạy con theo cách của người Nhật.

Nhưng theo mình tìm hiểu thì dạy con theo phương pháp Montessori là hiệu quả nhất và phù hợp với đặc thù giáo dục của Việt Nam hiện nay.


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Chọn Mẫu trên website Planetefrancophonie.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!